Kế toán cho mọi người

Hóa đơn thông thường trên 20 triệu có phải chuyển khoản không?

Hóa đơn mua của cục thuế có phải thanh toán qua ngân hàng không?

Theo quy định của pháp luật thuế thì doanh nghiệp mua hàng đối với những hóa đơn từ 20 triệu trở lên doanh nghiệp phải thanh toán không dùng tiền mặt. Vậy đối với những hóa đơn mua của cơ quan thuế trên 20 triệu đồng doanh nghiệp có phải thanh toán qua ngân hàng không?

Hỏi: Nguyễn Thị Anh Đào - Chi nhánh Tổng Công Ty Thương Mại Sài Gòn - TNHH MTV - TTTM Satra Đường Phạm Hùng:

Công ty chúng có có mua hàng của các hộ kinh doanh, cơ sở với hóa đơn bán hàng trên 20 triệu. Công ty chúng tôi chuyển khoản thanh toán tiền qua tài khoản hộ kinh doanh, cá nhân là chủ cơ sở, hộ kinh doanh. Các tài khoản của cơ sở, hộ kinh doanh không đăng ký với Cục Thuế theo mẫu 08-MST vì cho rằng chỉ các công ty, doanh nghiệp mới phải đăng ký mẫu 08-MST. Công ty chúng tôi xin hỏi cơ sở, hộ kinh doanh không đăng ký tài khoản ngân hàng với Cục Thuế như vậy có đúng không? Và các hóa đơn trên Công ty chúng tôi có được tính vào chi phí không, có bị loại không?

Trả lời: Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh:

Căn cứ Điều 9, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ, quy định về việc thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế như sau:

Điều 9. Thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế

Đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế trước thời điểm Nghị định 83/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì phải thông báo bổ sung tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này, thời hạn chậm nhất ngày 31 tháng 12 năm 2013.

Người nộp thuế trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi có thay đổi, bổ sung số tài khoản tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này (thay thế Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế).

Như vậy:
Căn cứ các quy định trên, trường hợp cá nhân phát sinh hoạt động cho thuê nhà thì phải đăng ký mã số thuế với cơ quan thuế theo Mẫu số 03-ĐK-TCT đồng thời thông báo bổ sung Thông tin về tài khoản của cá nhân đó đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng (tức là phải đăng ký tài khoản ngân hàng) với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo TỜ KHAI ĐIỀU CHỈNH THUẾ (MẪU 08-MST) ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC nêu trên.

Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN , trong đó các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt có giá trị từ 20 triệu trở lên tại Điểm b, Điểm c, Khoản 1, Điều 9 :

"b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
Đối với các trường hợp: Mua hàng hóa là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra; mua sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp của người sản xuất thủ công trực tiếp bán ra; mua đất, đá, cát, sỏi của hộ gia đình, cá nhân tự khai thác trực tiếp bán ra, mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt, mua đồ dùng, tài sản, của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp bán ra và dịch vụ mua của hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh phải có chứng từ thanh toán chi trả tiền cho người bán và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp kinh doanh ký và chịu trách nhiệm.
c) Đối với hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các khoản chi của doanh nghiệp cho việc: Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS nơi làm việc, hỗ trợ phục vụ cho hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này; cho việc thu mua hàng hóa, dịch vụ được lập Bảng kê quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này."

Như vậy:


Nếu hóa đơn của hộ khoán mà công ty bạn tiến hành giao dịch thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì sẽ không phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mà có thể thông qua chứng từ thanh toán chi trả tiền cho người bán và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ.

Nếu hóa đơn thông thường của cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng trên thì bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì mới đủ điều kiện được xem là chi phí hợp lý.

Căn cứ Thông tư 39/2014/TT-BTC tại Điều 13, Khoản 1 quy định cấp hóa đơn do cục thuế đặt in như sau:
1. Cơ quan thuế cấp hóa đơn cho các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng.
Trường hợp tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc thuộc trường hợp không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng thì cơ quan thuế không cấp hóa đơn.

Như vậy cơ quan thuế chỉ cấp hóa đơn cho những tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ cá nhân không kinh doanh nhưng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và cần có hóa đơn để giao cho người mua.
Cơ quan thuế không bán hóa đơn cho hộ, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT hoặc đối tượng không phải kê khai, nộp thuế GTGT. Do đó những trường hợp được cơ quan thuế cấp hóa đơn là nhưng trường hợp thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Các đối tượng chịu thuế GTGT thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về pháp luật thuế GTGT và thuế TNDN.

Thông tư 26/2015/TT-BTC tại Điều 1, Khoản 10 Sửa đổi, bổ sung Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC như sau:
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.”

Theo Thông tư 78/2014/TT-BTC, tại điều 6, khoản 1 quy định điều kiện tính vào chi phí được trừ bao gồm :
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán và chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính có phát sinh khoản chi phí này).

Thông tư 96/2015/TT-BTC tại Điều 4 Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:
Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.”

Như vậy, đối với hóa đơn mua của cơ quan thuế:
– Doanh nghiệp phải thanh toán qua ngân hàng cho người bán để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí được trừ.
– Về điều kiện thanh toán qua ngân hàng doanh nghiệp phải thanh toán từ tài khoản của công ty đã đăng ký với cơ quan thuế sang tài khoản của người bán đã đăng ký với cơ quan thuế.

Kết luận:

1. Đối với hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, bất kể là hóa đơn GTGT hay hóa đơn thông thường, thì công ty phải thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng (có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt) để được xem là chi phí hợp lý và được khấu trừ thuế GTGT.

2. Về điều kiện thanh toán qua ngân hàng doanh nghiệp phải thanh toán từ tài khoản của công ty đã đăng ký với cơ quan thuế sang tài khoản của người bán đã đăng ký với cơ quan thuế, bất kể tài khoản đó là của công ty hay cơ sở kinh doanh.

3. Trường hợp cá nhân phát sinh hoạt động cho thuê nhà thì phải đăng ký mã số thuế với cơ quan thuế theo Mẫu số 03-ĐK-TCT đồng thời thông báo bổ sung Thông tin về tài khoản của cá nhân đó đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng (tức là phải đăng ký tài khoản ngân hàng) với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo TỜ KHAI ĐIỀU CHỈNH THUẾ (MẪU 08-MST) ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC.

4. Các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt có giá trị từ 20 triệu trở lên quy định tại Điểm b, Điểm c, Khoản 1, Điều 9... là các hộ, cá nhân tự sản xuất các loại hàng nông lâm thủy hải sản.


Previous
Next Post »